Chiếc xe đạp Thống Nhất của cha tôi – KIM THANH

IF

 Bây giờ Hà Nội nườm nượp xe máy, xe ta-xi các kiểu dáng phong phú, không còn mấy ai đi xe đạp, trừ  một số học trò trung học cơ sở nên thế hệ 7x, 8x làm sao hình dung nổi xe đạp Thống Nhất thế nào so với xe đạp Nhật, xe đạp Trung Quốc? Nhưng vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, chiến tranh phá hoại đang ác liệt,  người Hà Nội có được chiếc xe đạp Thống Nhất là cả một tài sản quý giá để cơ động từ tỉnh nọ sang tỉnh kia, đèo hàng, tiếp tế lương thực thực phẩm cho gia đình nơi sơ tán, đi công tác, đi thăm họ hàng, bạn bè.. tất thảy đều trông vào chiếc xe đạp do nhà máy Thống Nhất sản xuất.

Cha tôi đi chiến trường B, để lại cho Mẹ chiếc xe đạp này.Tháng tháng, mẹ đạp 25 km về quê ngoại  thăm ông  ngoại đang nuôi tôi ăn học cấp I ở Đông Cảo, lại đạp 50 km về quê nội thăm bà nội và em gái tôi mới lên 3 tuổi ở Hoà xá. Cứ thế, mẹ vừa bám máy sản xuất, vừa trực chiến ở đại đội pháo tầm thấp 12 ly 7 của nhà máy, lại vẫn thu xếp về cả hai quê, đèo gạo, mỳ, đường, sách vở về cho chị em tôi.

Năm 1972, Mỹ oanh tạc Hà Nội rải thảm bom B52 xuống thành phố tàn khốc đến vô nhân tính. Mẹ tôi đưa xe về quê ngoại cho tôi. Tôi sướng rơn, được làm chủ con trâu sắt này. Đã 13 tuổi, nhưng tôi vẫn phải học ngồi lên cái yên cao lênh khênh cho khỏi bị vướng víu cái gióng sắt chạy ngang nối từ cọc yên xe đến cổ phốt, rồi đặt chân lên hai bàn đạp mà đạp xe. Ngã nhào xuống ao và xuống mương máy lần, tôi mới vững tay lái đựơc, nhưng cũng chỉ dám đi loanh quanh từ làng dưói lên làng trên…Ngày ngày, áp tai vào cái loa ăn pin muối, tôi nóng ruột  khi nghe Mỹ đánh An Dương, Khâm Thiên… sợ mẹ có an bình được với bọn giặc trời không? Tối tối, hai ông cháu đứng ở đầu làng, chỉ thấy quầng sáng hắt lên phía chân trời mà không sao ra Hà Nội được. Tôi nằn nì xin ông mấy lần, rồi thì ông cũng chiều, cho anh tôi hộ tống tôi ra Hà Nội thăm mẹ. Khu tập thể bị bom Mỹ phạt hẳn một nửa nhà A5, trơ ra những mảng  tường nham nhở. Mẹ tôi chỉ cho ở nhà một lúc rồi hối thúc anh em tôi về.

Lần sau, nhớ mẹ, chiều thứ 7 nghỉ học,  tôi liều trốn ông  ngoại ra Hà Nội thăm mẹ. Con đê Văn Giang cao sừng sững nên cái dốc xuống bến đò Khuyến Lương cũng cao. Bên phải dốc là ao , tiếp đó là cánh đồng rộng, có rất nhiều  quả bóng “ thám không” to như cái mâm lơ lửng để đánh lạc hướng bọn Mẽo phi vào vùng trời Hà Nội theo đường sông Hồng. Tôi đã định xuống xe dắt bộ hết con dốc, nhưng tin tưởng vào đôi phanh nên cứ lao xuống dốc, không dè, nửa chừng dốc thì phanh đứt, không còn cách  nào ngoài đôi tay 13 tuổi của tôi ghì chặt tay lái. Cuối cùng thì con trâu sắt đổ lắn quay, tôi ngã xoài cuối dốc, không gãy xương, xây xát gì mới lạ. Lóp ngóp đứng dậy được thì ôi thôi, một bên ghi đông sắt đã bẹp gí, môt bên còn nguyên, cổ phốt xe đạp vẹo đi một chút. Tôi dắt bộ đến hàng sửa chữa xe đạp ẩn dưới lùm nhãn um tùm, bác chữa xe cũng chỉ bẻ lại cổ phốt cho tôi đi tạm và lắc dầu chịu chết với bên ghi đông bẹp gí kia. Toi trèo thử lên xe, lấy hết gân cốt vào đôi tay. Một vòng, hai vòng. Ba vòng, xe bon dần… Cứ thế, tôi đạp về nhà ở D4, khu tập thể nhà máy dệt 8/3, thở phào khi thấy cả dãy  bốn nhà 4 tầng vẫn sừng sững giữa trời. Mẹ kinh ngạc khi tôi ào vào cửa nhà ngã kềnh ra sàn, thở hổn hển (mày mà mẹ không đi làm chiều hay đi trực chiến). Càng kinh ngạc hơn khi nhìn thấy xe bẹp gí một bên ghi đông mà tôi vẫn về được đến nhà. Sờ nắn khắp người tôi không việc gì, mẹ mới tất tả đi nấu cơm, chiêu đãi tôi món canh riêu cua ăn với cây chuối non mà tôi rất thích. Đêm ấy, tôi lại được ngủ trong căn phòng 16 mét vuông chia đôi, một nửa cho gia đình tôi, một nửa cho bác Sách cũng có chồng đi B, con trai bác lúc ấy mới 4 tuổi đã đi sơ tán về quê  ở Tế Tiêu (huyện Mỹ Đức) rồi. Rúc vào lòng m ẹ ấm áp, hít thở mùi mồ hôi quen thuộc, tôi lại thấy bé bỏng như hồi bé tẻo teo 6 tuổi, tôi cứ nhất  định ngồi ở cầu thang, chờ mẹ tan ca chiều 10 giờ tối. (Từ nhà máy, mẹ đi bộ về  khu tập thể Kim Liên  đã  gần 11 giờ đêm, vẫn thấy tôi  bướng bỉnh  ngồi chờ).

Sáng hôm sau, mẹ dắt xe đi sửa rồi bắt  tôi đạp xe về quê ngay. Tôi thương mẹ vất vả, xung phong đèo 10kg mì sợi về quê cho ngoại. Đó là chuyến thồ gạo mì đầu tiên của tôi bằng chi ếc xe đạp Thống Nhất. Sau này, còn nhiều chuyến nữa, tôi chở mì, đường kính trắng về cho ngoại cho đến tận khi hết chế độ mua mì sợi trong sổ cung cấp lương thực. Chiếc xe đạp gắn bó thân thiết với gia đình tôi, mẹ giữ làm kỷ niệm của Cha tôi. Cho mãi đến khi tôi học năm thứ ba Đại học Tổng hợp năm 1978, xe già lão dần, nhà còn khó khăn, cũng không thể giữ xe mãi, mẹ tôi đành đổi xe cho bà bạn thân có con trai  cũng đang học Đại học, còn  mẹ lấy chiếc xe Vĩnh Cửu của cô. Tình bạn bè, tình người thời ấy, dù khó kh ăn nhưng  thân ái biết bao, chẳng  suy tính thiệt hơn quá nhiều như thời @ hôm nay.

Những kỷ vật của một thòi đánh Mỹ hào hùng, hôm nay, con cháu tôi cũng như các em đang lớn lên, chỉ có thể nhìn thấy trong Bảo tàng quân đội, nhưng câu chuyện kể của ông bà, cha mẹ cho con cháu thì lưu truyền mãi trong nếp nhà của mỗi ngưòi dân Đất Việt
Phạm Kim Thanh(HS cũ)

Bài này đã được đăng trong BẠN VĂN và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s